Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

Nghệ thuật mặt nạ Kinh kịch Trung Quốc p2 ( end)

1.2         Nghệ thuật mặt nạ

a.       Tổng quát  

Mặt nạ trong Kinh kịch được gọi là kiểm phổ. Không chỉ là một hình thức đi kèm với diễn xuất để làm vở tuổng trở nên sinh động hơn, mặt nạ Kinh kịchcòn là một loại hình nghệ thuật đặc sắc của người Trung Quốc. Qua hình dáng, và máu sắc của mặt nạ, người xem có thể nhận dạng được tính cách nhân vật. Các nhân vật đều được xây dựng với một tính cách đặc trưng để người xem dễ hiểu, do vậy những chiếc mặt nạ càng phát huy tác dụng của mình. Các tính cách đặc trưng như trung thành, gian trá, lương thiện, xấu xa, cao thượng hay thấp hèn. Mỗi loại như vậy, đều sử dụng những màu nhất định chủ đạo. Những màu sắc này, nhìn chung trên thế giới được nhìn nhận gần giống nhau trong ý thức tương quan ý nghĩa. 

Lịch sử Kinh kịch hơn 200 năm, đã tích lũy được những chuẩn mực có tính công thức cho hệ thống trình diễn như phục sức, hình thức biểu diễn (ca, nói, vũ đạo) và đặc biệt là chuẩn mực kiểm phổ. "Qua nhiều năm phát triển, phương pháp vẽ kiểm phổ, kiểm phổ tiêu biểu cho cái gì, đặc điểm và quy trình vẽ đều có quy ước riêng, những khán giả quen thuộc chỉ cần nhìn mặt là biết ngay nhân vật nào trong vở kịch nào. Từ đó cũng thấy được quan điểm và xu hướng tình cảm đặc thù của người Trung Quốc đối với các nhân vật lịch sử... Kiểm phổ chính là bằng chứng phát triển hoàn thiện của thủ pháp tả ý ước lệ trong Kinh kịch, hiểu rõ ý nghĩa tượng trưng mà kiểm phổ muốn thể hiện sẽ giúp ích cho việc tìm hiểu cốt truyện của tuồng kịch. Sau khi kiểm phổ đã có chỗ đứng vững chắc trong nghệ thuật biểu diễn hí kịch, mặt nạ vẫn chưa bị phế bỏ, ví dụ như khi diễn các vở kịch về đề tài cát tường và thần thoại vẫn còn “mặt nạ thần tài”, “mặt nạ thần sấm”..., vẫn còn tình trạng mặt nạ và kiểm phổ cùng xuất hiện trên sân khấu" (sđd, trang 13). 

Màu sắc thường được sử dụng trong vẽ kiểm phổ gồm màu đỏ - tính cách trung thành nhất mực; màu trắng – tính cách gian trá, độc ác; màu xanh dương – tính cách kiên cường, dũng cảm; màu vàng – đại diện cho thần phật, quý quái…

Thông quá kiểm phổ, tính cách của người nghệ sĩ thể hiện mạnh mẽ trong từng tác phẩm. Mỗi mặt nạ được vẽ phải có tính chăm chút kể cả về thái độ, giống như viết tay, hay vẽ tranh. Nghệ nhân vẽ mặt nạ bằng loại bút chuyên dụng, sử dụng khó nên yêu cầu về tính chính xác và tỉ mỉ cao. Nghệ thuật vẽ mặt nạ Kinh kịch không chỉ nằm ở việc chọn màu sắc phù hợp với nhân vật, hoạ tiết thanh nhã mà có hồn, mà còn ở việc vẽ phù hợp với khuôn mặt của diễn viên. 
Với người nghệ nhân vẽ kiểm phổ, bút và màu mực đều được trân trọng như nhau. Trong đó, màu mực được ví như vàng. Nguyên nhân là do nguyên liệu phải bền, không hại sức khoẻ, phải giữ được màu lâu và tươi. Yêu cầu đối với màu mực vẽ kiểm phổ tương đối cao. Với người nghệ nhân, chỉ có những màu vẽ tốt mới vẽ ra những “ tác phẩm” sống động, có hồn, và được mọi người yêu thích. Họ cho rằng, mặt nạ tạo nên cá tính nhân vật, dũng khí của người diễn viên và chỉ có mặt nạ đẹp mới mang lại hiệu quả tốt cho vở kịch.
Nghệ thuật vẽ mặt nạ không thể sao chép từ sách, hay nói cách khác không thể rập khuôn. Đối với những người tập sự, họ thường xuyên luyện tập vẽ trên mô hình, sao chép từ các hình mẫu. Người tập sự chỉ được công nhận khi họ thành thạo việc sử dụng màu sắc, hoạ tiết, và sự tương quan giữa khuôn mặt và mặt nạ. Tuỳ theo khuôn mặt diễn viên mà thu hẹp hay mở rộng cách vễ. Ngày nay, những nghệ nhân này còn học cả giải phẩu học, hình hoạ học để hoàn thiện thêm kĩ năng của mình. 
Có nghiên cứu cho rằng, mặt nạ dùng trong Kinh kịch, được vẽ trực tiếp lên mặt người, thay vì sử dụng mặt nạ bằng giấy, có hiệu quả tốt hơn. Khán giả bị thu hút bởi kiểm phổ do sự chuyển động của các cơ mặt khiến cho mặt nạ sinh động và gây hiệu ứng thích thú từ khán giả. Người diễn viên Kinh kịchgiỏi là khi họ nhuần nhuyễn trong việc thể hiện cảm xúc, đồng bộ cùng mặt nạ họ đang mang, để tạo nên sự hấp dẫn cho nhân vật. 
Theo Paul và Bernice Noll, mặt nạ Kinh kịch gồm 14 nhóm khác nhau. Đối với giới Kinh kịch, mặt nạ đẹp phải được vẽ thủ công, và tuỳ vào người vẽ sao cho phù hợp với khuôn mặt của người diễn viên. Vì vậy, những chiếc mặt nạ vốn đã đa dạng và phong phú về thể loại lại có rất nhiều dị bản, cũng như bổ sung chỉnh sửa. Ban đầu, việc phân loại mặt nạ chủa phổ biến, chủ yếu là phân loại theo kiểu nhân vật, như Tào Tháo, Quan Vũ, Trương Phi, Mộc Quế Anh … Hiện nay để phân loại mặt nạ Kinh kịchdựa vào các yếu tố sau, màu sắc chủ đạo, hoạ tiết chính, và khuôn của mặt nạ.
-          Mặt trơn ( Full face) : mặt trơn với tông màu chủ đạo: đen, đỏ, trắng.
-          Mặt ba mảng ( Three-tile Face) : dựng ( Up- right), hoa ( Flowered), nhọn ( Pointed) và lão ( Old)
-          Mặt chữ thập ( Cross Face) : chủ yếu dành cho: mặt lão ( Old) và đốm ( Variegated).
-          Mặt sáu phần mười ( Six – Tenth Face) dành cho mặt thường và mặt lão ( Old)
-          Mặt hoa ( Broken- flower Face) gồm những màu xanh, đen, đen bất đối xứng ( astmmetric) và trắng xoáy ( Twisted)
-          Mặt thầy tu ( Monk Face) với màu trắng, vàng.
-          Mặt thầy pháp ( Taoist Face) gần giống đạo Lão.
-          Mặt hoạn quan ( Eunuch Face)
-          Mặt hình thỏi bạc ( Ingot Face) chia làm mặt thường ( Ordinary), ngược ( Inverted ) và hoa ( Flowered)   
-          Mặt mang biểu tượng ( Symbolic Face)
-          Mặt thần tiên ( Fairy Face)
-          Mặt hề ( Clown Face) bao gồm hề dân gian ( Civilian), hề ác ( Ugly) và hề lính già ( Old warrior).
-          Mặt khoa trương ( Heroic Face)
-          Mặt yêu quái ( Demon Face)

b.     Nghệ thuật vẽ mặt nạ

·        Mặt trơn:
Đây là kiểu mặt có cách vẽ gần giống mặt người tự nhiên nhất. Người ta phủ toàn bộ da mặt bằng màu chính yếu đại diện cho tính cách nhân vật, sau đó vẽ cách điệu thêm mắt, lông mày, mũi, miệng. Kỹ thuật vẽ mặt kiểu này dùng những nét vẽ nhỏ, mảnh, chính xác và dứt khoát.

Để vẽ mặt Quan Vũ, trước tiên người ta thoa toàn mặt màu đỏ, sau đó vẽ lông mày và mắt bằng những đường màu đen, những vạch dài trên trán và hõm mũi sậm màu mô tả một người phi thường do bởi vẻ uy nghi và tôn quý.  

Tào Tháo là nhân vật đa nhân cách, một mặt có tính cách ám muội, dối trá, mưu mô mặt khác lại có tài thao lược trong quân sự và chính trị. Khuôn mặt Tào Tháo được phủ toàn bộ màu trắng thể hiện bản chất quỷ quyệt, mắt ti hý gãy góc với những nếp nhăn đằng chuôi cho thấy một tính cách xảo trá.


Khuôn mặt Bao Công được vẽ màu đen có cặp lông mày trắng đang nhíu lại để thể hiện tính cách Trung Quốc, hiếu dân và thượng tôn pháp luật. Vầng trăng trên trán thể hiện sức mạnh bí ẩn giúp Bao Công  giao tiếp với trần thế vào ban ngày và âm phủ vào ban đêm.

Tuy nhiên, ba màu trên đại diện những nhân vật có cá tính mạnh, chưa đáp ứng nhu cầu đa dạng trong các vở kinh kịch.
·        Mặt ba mảng:  
Kiểu mặt ba mảng là một trong các kiểu mặt phổ biến nhất cũng như có nhiều biến thể nhất.Trong kiểu vẽ mặt này, các yếu tố mắt, lông mày và mũi được cường điệu lên bằng ba mảng màu, hai mảng màu gọi là hốc mắt (eye sockets) được vẽ xung quanh hai mắt và một hố mũi (nose pit) xung quanh mũi. Ba mảng màu này tựa như mấy viên ngói được xếp chồng lên nhau nên tiếng Anh mới có khái niệm là "three-tile" (ba viên ngói). Với kiểu mặt này, màu chủ đạo là màu nền phía dưới ba mảng màu bên trên.

Kiểu mặt ba mảng dựng đại diện cho tính cách trung thành và can đảm. Lông mày được vẽ gần như thẳng đứng với mắt to và hõm mũi tròn. Mặt kiểu này thường có màu đỏ, trắng hay tía. Khương Duy mang mặt đỏ với biểu tượng lưỡng nghi rất đặc biệt trên trán, thể hiện việc ông là môn đồ của Gia Cát Lượng với khả năng "thông thiên văn, hiểu địa lý" như thầy.

Dou Er Dun là một trong những kiểu mặt đẹp và phức tạp trong Kinh kịch, khuôn mặt được chăm chút bằng những nét  và đốm tinh xảo xung quanh mắt và lông mày. Dou Er Dun là một thảo khấu nên mặt có màu xanh, giữa trán vẽ hình một cái lưỡi nhọn để biểu tượng cho cái xóc hai lưỡi là vũ khí đặc biệt của nhân vật này.

Kiểu mặt ba mảng nhọn được phân biệt bởi lông mày cong hoặc nhọn với mắt thường được vẽ xếch lên. Kiểu mặt này có rất nhiều màu và nhân vật mang mặt này cũng rất đa dạng. Wang Lin là bạn của Lưu Ban, ông có công trong việc cứu gia đình Lưu Bang khỏi tay Xiang Xu, sau khi nhà Hán thành lập, ông trở thành thừa tướng của triều đại này.

Kiểu mặt ba mảng lão vẽ những nhân vật già với đặc điểm là mí mắt sệ xuống, các cơ mặt cũng được vẽ chùng lại như "đám mây thấp", hố mũi vẽ màu đen hay xám để chỉ tình trạng "hoa râm" của nhân vật. Cheng Pu là hình ảnh của một người đàn ông thông minh và đầy kinh nghiệm, người có khả năng giải quyết những tình huống khó khăn bằng trí lực.
·        Mặt chữ thập:
Cách gọi này xuất phát từ chữ Trung Quốc: 十字门脸 (shízìmén liǎn). Mặt này được biến thể từ kiểu vẽ mặt ba mảng, màu chủ đạo của nhân vật là màu của đường kẻ dọc kéo từ trán xuống đầu mũi. Đường kẻ này kết hợp với đường ngang nối hai hốc mắt tạo thành một chữ thập giữa mặt. Những nhân vật kẻ mặt chữ thập đều là nhân vật chính diện như là anh hùng hay dũng tướng. Nếu vùng trắng xung quanh hai mắt được mở rộng một chút để trông giống như hai cánh chim, kết hợp với sống mũi vẽ đen sẽ cho khuôn mặt giống hình con chim ác (magpie), vì thế mặt kiểu này được gọi là mặt chim. Khi hốc mắt và mũi được vẽ dính liền nhau, khuôn mặt có hình dạng một con bướm xòe cánh, khi này mặt được gọi là mặt bướm. Nếu mặt bướm được trang trí thêm một vài họa tiết trên trán và xung quanh mắt thì khuôn mặt có tên là mặt bướm hoa (flowery butterfly face).

Khuôn mặt của Hạng Vũ là độc đáo và duy nhất với mày rối và mắt chùng, mô tả hết sức sinh động hình ảnh bi tráng của một đấng anh hùng.

Trương Phi là một danh tướng rất được dân chúng yêu mến và ngưỡng mộ, ông có tính cách khẳng khái, bộc trực và rất nóng nảy, cùng võ nghệ siêu phàm kết hợp với sự dũng cảm và coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Nhưng ít ai biết được Trương Phi viết chữ rất đẹp và là một họa sĩ có biệt tài vẽ mỹ nhân.
·        Mặt Sáu phần mười:
Mặt kiểu này là biến thể của mặt trơn, sỡ dĩ có tên này là do màu chính yếu chiếm tới 6 phần khuôn mặt, màu này được vẽ trên toàn bộ hai gò má và trên đường kẻ dọc ở giữa trán. Phần trán còn lại thường được vẽ màu trắng còn lông mày thì lại được giản lược bớt, có khi chỉ còn là hai đốm hình oval trên mặt.

Mặt sáu phần mười có lối vẽ rất đơn giản, nhưng đây lại là kiểu mặt của giới quyền cao chức trọng như quân sư, quý tộc hay là vua.

"Những kiểm phổ mà khán giả thường thấy đa phần đều là của "Hoa kiểm", loại vai này được gọi là "Tịnh". Nhân vật vai này đều là nam, tính tình thô lỗ, phóng khoáng, thích nói chuyện lớn tiếng, thường xuyên la lớn, khi nôn nóng, căng thẳng còn động tay, động chân". Đây là mô tả về tính cách của mặt hoa trong cuốn Kinh kich Trung Quốc giới thiệu bên trên (trang 69).
Mặt hoa có hai dạng chính là mặt nét gãy (broken pattern) và biến dạng (deformed pattern). Mặt hoa nét gãy được biến thể từ mặt hoa ba mảng và mặt chữ thập bướm hoa, nghệ sỹ vẽ các đường cong trên trán, mắt, lông mày và cả trên hai gò má để tạo ra các hình dạng phong phú và đa dạng. Màu chính yếu được quy ước nằm trên trán, thông thường khuôn mặt kiểu này được vẽ bởi rất nhiều màu nhắm tạo những hiệu ứng ấn tượng cho khuôn mặt.

Ma Wu mang mặt hoa màu xanh, nét bút được vẽ tỉ mỉ nhằm làm cho khuôn mặt thô ráp và hoang dã là hình ảnh điển hình của một thảo khấu chốn rừng xanh.
Xu Chu là cận vệ của Tào Tháo, ông được mô tả là người cao lớn, mạnh mẽ nhưng đầu óc giản đơn và trung thực nên có biệt danh là "cọp khờ" (Tiger Pool). Mặt Xu Chu mang màu đen, những nét vẽ cong, đứt đoạn cùng những đốm chấm dưới mắt và mày làm khuôn mặt trông rất dữ.
Kiểu mặt hoa biến dạng, giống như tên gọi, mô tả một khuôn mặt bị biến dạng trong một trạng thái cảm xúc không bình thường. Thường khuôn mặt này là mặt của tội phạm hay là mô tả một hành vi phạm tội.
Mặt Zhen Ziming bị biến dạng do một con thú vồ khi ông này đang cố cứu một người khác lúc còn tuổi trẻ, khuôn mặt có một vết sẹo trên trán và có cả dấu của vết cào ở một bên má.

Năm loại mặt bên trên mô tả thế giới của những người bình thường, tuy nhiên Kinh kịchcòn cả một thế giới khác thường nữa, đó là thế giới của đạo sĩ, của thần tiên, của quái vật. Khuôn mặt của những nhân vật kiểu này được mô tả bằng những biểu tượng có tính ám chỉ rất đặc biệt, thường hốc mắt được vẽ hình bầu dục, quanh mũi và miệng là những họa tiết hình hoa, trên trán bao giờ cũng có những dấu hiệu như, lưỡng nghi biểu trưng cho đạo Lão hay ngọc tỉ, chín dấu chấm biểu trưng cho Phật giáo.



Bên cạnh tu sĩ còn có hoạn quan cũng thuộc loại người không bình thường, hoạn quan trong Kinh kịchchỉ có hai màu mặt là đỏ và trắng. Tính cách thường không tốt đẹp, không chuyên quyền thì cũng thích hành hạ và cai trị người ta. Lông mày được vẽ mỏng và xếch ngược, hốc mắt vẽ bầu bầu tựa con dao phay ám chỉ sự chết chóc, khóe miệng thì trễ xuống cộng với những nếp nhăn được kéo thõng cho thấy tính cách trí trá của hạng người này. Điều tức cười nhưng chính là dụng ý của nghệ thuật vẽ mặt, hoạn quan bao giờ cũng có hình ngọc tỉ trên trán, cho

thấy họ là đệ tử Phật nhưng mỉa mai thay rằng "miệng nam mô nhưng bụng ngậm bồ dao găm"
Mặt mang biểu tượng: 
Là một phần rất đặc sắc của Kinh kịch, khuôn mặt này thể hiện nhân vật thần thoại thường xuất hiện trong những vở kịch chuyển thể từ truyện cổ tích. Không có tiêu chuẩn chung nào để vẽ loại mặt này, tuy nhiên người  nghệ sỹ phải hóa trang sao cho khuôn mặt gồm  màu sắc và đường nét phải đại diện cho con quái vật hay vị thần mà mình muốn mô tả.
Đây là mặt Tôn Ngộ Không trong vở "Đại náo thiên cung", diễn viên đóng vai này phải hóa trang cho thật giống con khỉ huyền thoại rất nổi tiếng này.

 Đây là mặt của con quỷ đội lốt báo trong vở kịch "Núi Hồng đào", con qủy này chiếm núi Hồng đào và cướp vợ của điền chủ, cuối cùng nó bị bắt bởi thiên binh.
·         Mặt thần tiên:
Đây là biến thể của loại mặt trơn và mặt ba mảng, thường là mặt Phật hay Thánh. Màu nhũ vàng và bạc, biểu tượng cho sự thiêng liêng và tôn kính là hai màu chủ đạo của kiểu mặt này.

Mặt Lý Thiên Vương là kiểu mặt ba mảng nhọn với hình thanh long đao màu nhũ vàng trên trán, trong vở "Đại náo thiên cung" Ngọc Hoàng đã phái Lý Thiên Vương xuống bắt Tôn Ngộ Không để dẹp loạn.
 

      

Mặt khoa trương và mặt yêu quái:
Về cơ bản, hai loại mặt này gần giống như mặt mang biểu tượng, chúng thường là những vai phụ nên cách vẽ cũng khá đơn giản nhằm đễ dễ phân biệt với các vai chính trong một vở kịch.

· Mặt hề:
" Xét trên chức năng hí kịch của kiểm phổ, dù nhân vật thuộc thể loại vai nào đều có thể vẽ kiểm phổ, khi cần thiết phải làm nổi bật hình tượng và diện mạo của nhân vật. Thường thì hai dạng nhân vật Tịnh (vai tà) và Sửu (vai hề) có nhiều kiểm phổ nhất. Thông thường, đối với những khán giả thích kiểm phổ thì đại đa số đều tập trung quan sát vai Tịnh, nhưng vai Sửu trong Kinh kịchmới là dạng vai đầu tiên được vẽ kiểm phổ trong lịch sử Kinh kịch... Kiểm phổ của các nhân vật khác nhau cũng có sự khác biệt rõ nét. Nhưng so ra thì kiểm phổ của vai Sửu lại đơn giản hơn vai Tịnh, nhưng các nhân vật hàng Sửu lại đa dạng và phức tạp hơn nhiều, hiệu quả nghệ thuật diễn xuất cũng khá nổi bật so với vai Tịnh. Vì vậy kiểm phổ của vai Sửu vừa tinh tế và có chiều sâu hơn, không phải đơn thuần chỉ vẽ mấy “mảng đậu phụ” (mảng màu trắng to bằng một miếng đậu phụ được vẽ ở giữa mặt) mà thôi, và cho dù chỉ là vẽ “mảng đậu phụ” như nhau, nhưng vị trí vẽ và kích thước to nhỏ cũng sẽ mỗi người mỗi khác, và cũng tùy theo từng vở kịch"

Hệ thống vai hề chiếm vị trí rất quan trọng trong Kinh kịch. Người ta dùng thủ pháp biếm họa để thể hiện khuôn mặt hề, một bệt trắng như miếng đậu phụ được vẽ chính giữa mặt, trùm lên toàn bộ chóp mũi, có thể có nhiều hình dạng khác nhau như tròn, tam giác, đa giác. Đây là đặc điểm chính yếu để nhận diện mặt hề.
Jiang Gan trong vở "Quần anh hội" là một ví dụ điển hình của mặt hề. Khuôn mặt được vẻ nhằm cho thấy một người có bề ngoài thông minh nhưng thực chất lại rất ngốc nghếch.

Xue Ba là một trong hai tên cướp được phái đi giết Lâm Xung trong vở "Dã trư lâm" dựa trên cốt truyện Thủy Hử.
"Trong vai Sửu, có một số đóng vai nham hiểm, gian xảo, tham lam, ích kỷ, nhưng nhiều hơn hết là các vai thông minh, lanh lợi, cảnh giác, hài hước, thậm chí còn rất ngay thẳng, chính trực, hiền lành. Trong hí kịch tryền thống, thông thường những nhân vật có địa vị không cao đều do vai Sửu đóng. Nhưng xét về tính cách, những người này đa phần đều rất hài hước, hoạt bát, khá lạc quan. Phải nói rằng nhân vật thuộc hàng Sửu nhiều hơn các vai Sinh, vai Đán và vai Tịnh, từ hoàng thượng, tướng quân, thừa tướng, cho đến tầng lớp bình dân, những người què, điếc, mù, câm, nam, nữ, già, trẻ, người tốt, người xấu, trung thần, kẻ gian đều có thể dùng vai sửu để thể hiện" (sđd, trang 70). Quả đúng "Vô Sửu bất thành hí"!
·         
Mặt nữ:
"Đán" là tên gọi để chỉ vai nữ ngược với "Sinh" để chỉ vai nam. Có lẽ vở "Bá Vương biệt cơ" sau này được dựng thành phim là một "show diễn" thành công trong việc giới thiệu Kinh kịchra với thế giới. "Bá Vương biệt cơ" là vở kịch của vai Đán, vở kịch kể về mối tình thiên cổ của kiêu hùng Sở Bá Vương Hạng Vũ với tuyệt đại mỹ nhân Ngu Cơ đã cùng chết đẹp trong ngày tàn binh bại.
Khi vẽ mặt vai nữ, cách đánh phấn, thoa son, vẽ chân mày, vẽ đường viền mắt, hình môi là những điểm cần chú ý nhưng cách dán hoa mới là điểm nổi trội. "Cách dán hoa của vai Đán tức là vẽ tóc mai ở hai bên má của diễn viên vai Đán và dán hoa ngay trên phần tóc trên trán, ưu điểm là có thể thay đổi khuôn mặt một cách tự nhiên, giúp cho khuôn mặt mang vẻ đẹp của thời đại đó, và cũng phù hợp với yêu cầu của vở kịch" (sđd trang 139).
Mộc Quế Anh (穆桂英- Mu Gui Ying) là một nhân vật hư cấu trong các giai thoại về Dương Gia Tướng. Theo đó, bà được mô tả là một nữ tướng dũng cảm, kiên quyết và trung thành, được xem là hình tượng của một người phụ nữ kiên định trong văn hóa Trung Quốc.

2.3 Sự phục hồi của nghệ thuật Kinh kịch

a. Chính sách nhà nước bảo tồn nghệ thuật Kinh kịch

Được nhìn nhận là tinh hoa nghệ thuật truyền thống dân tộc, Kinh kịch đã được chính phủ Trung Quốc ra sức nâng đỡ. Ngoài việc xây dựng một nhà hát lớn mang tên Trường An quanh năm biểu diễn Kinh kịch, còn có các cuộc thi biểu diễn Kinh kịch trong nước và Quốc tế thu hút nhiều người hâm mộ, không những thế Kinh kịch còn được chọn là chương trình bảo lưu trong giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với nước ngoài. Hiện tại Kinh kịchđược biểu diễn rộng rãi thường xuyên tại các rạp và trên truyền hình.

Tháng 7 năm 2010, Bộ Giáo dục Trung Quốc đã sửa lại tiêu chuẩn môn học âm nhạc trong 9 năm giáo dục bắt buộc học nội dung Kinh kịch, và chọn 20 trường trung tiểu học của mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc và Khu tự trị dân tộc bao gồm 10 địa phương như Bắc Kinh, Thiên Tân… làm thí điểm, học sinh từ lớp 1 đến lớp 9 sẽ học hát trích đoạn của 15 vở Kinh kịch nổi tiếng. Chính sách "Đưa môn học Kinh kịch vào trường học" tiến triển thuận lợi, đã giúp thanh thiếu niên tăng thêm hiểu biết và niềm yêu thích đối với Kinh kịch.

Trong những năm gần đây, Kinh kịch đã gây tiếng vang trên thế giới nhờ vào hai bộ phim là “Bá Vương Biệt Cơ” và “Forever Enthralled” (Đời nô bộc) cùng của đạo diễn Trần Khải Ca và do Chương Tử Di đóng vai chính. Hai bộ phim này ngoài khía cạnh là những bộ phim tâm lý tình cảm sâu sắc còn mô tả rất chân xác về nghệ thuật Kinh kịch và về cuộc đời của những nghệ nhân Kinh kịchnổi danh một thời của Trung Quốc như Mai Lan Phương, Trình Nghiên Thu, Thượng Tiểu Vân…
Gần đây, việc cải biên một số tác phẩm văn học nổi tiếng sang kịch bản Kinh kịch thực sự đã làm nên sự hấp dẫn, mới mẻ cho Kinh kịch. Đặc biệt, tác phẩm "Ông lão đánh cá và con cá vàng" của thi hào Puskin được chuyển thể thành Kinh kịch mới đây đã rất cuốn hút các khán giả trẻ, làm cho họ có hứng thú đối với nghệ thuật dân tộc. Vở kịch "Ông lão đánh cá và con cá vàng" tuy được thể hiện bằng hình thức Kinh kịch truyền thống, nhưng đã thêm nhiều yếu tố hiện đại bám sát tâm lý thanh thiếu niên.
Các vở Kinh kịch hiện đại thường xuyên được công diễn đã không chỉ làm thế hệ trẻ tăng thêm hiểu biết đối với Kinh kịch, và tôn vinh nghệ thuật Kinh kịch Trung Quốc, một di sản lớn của văn hóa thế giới, mà thực sự đã có được sự yêu thích, mến mộ của đông đảo các tầng lớp khán giả.
Những cố gắng của các cơ quan hữu trách Trung Quốc nhằm kế thừa duy trì và phát triển nghệ thuật Kinh kịch hòng bảo tồn một giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc thực sự đang được phát huy rất hiệu quả. Điều này càng thêm ý nghĩa khi vào tháng 11 năm 2010, Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc UNESCO đã chính thức công nhận Kinh kịchlà di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đây là một quyết định đúng đắn và kịp thời, nó mang một ý nghĩa lớn lao hòng cứu vãn cho nền nghệ thuật sân khấu thế giới những mất mát đáng tiếc. Mặt nạ là nghệ thuật đặc sắc nhất trong Kinh kịch. Qua mặt nạ có thể khán giả có thể nhận biết các nhân vật trung thành hoặc gian trá, tốt đẹp hay xấu xa, lương thiện hay gian ác, cao thượng hay thấp hèn. Ví dụ như, nặt nạ tô đỏ thể hiện nhân vật trung thành nhất mực, nếu là màu trắng thì nhân vật đó có tính cách gian trá, độc ác, màu xanh lam thể hiện nhân vật đó kiên cường dũng cảm, màu vàng nói nên nhân vật đó tàn bạo, màu vàng hoặc màu bạc tượng trưng cho thần phật hoặc quỷ quái, khiến khán giả có một cảm giác huyền ảo. Thông thường cho rằng, cuối thế kỷ thứ 18 là thời kỳ phát triển rầm rộ nhất của Kinh kịch. Hồi đó, không những tuồng sân khấu dân gian rất phồn thịnh, mà trong Hoàng cung cũng thường xuyên tổ chức biểu diễn tuồng sân khấu. Bởi vì các Hoàng gia quý tộc thích xem Kinh Kịch, điều kiện vật chất ưu việt trong cung đình đã cung cấp sự giúp đỡ về các mặt biểu diễn, quy chế về trang phục, hóa trang mặt nạ, phông cảnh sân khấu v v ... sân khấu tuồng dân gian trong hoàng gia quý tộc và dân gian ảnh hưởng lẫn nhau, khiến Kinh kịch đã có sự phát triển chưa từng có.

b. Nghệ thuật bảo tồn Kinh kịchtrong dân gian

Bên cạnh những biện pháp chính trị xã hội do nhà nước xây dựng trong việc phục hồi các giá trị truyền thống của loại hình nghệ thuật Kinh kịch, mà thời gian gần đây, chính người dân cũng dần nhận thức được vẻ đẹp và giá trị của loại hình nghệ thuật này.
Bản thân người dân Trung Quốc, với lối suy nghĩ thực tế, đã đưa các giá trị trở thành sản phẩm kinh doanh, mang lại giá trị sống, cải thiện đời sống của họ. Tuy nhiên, đây là một vấn đề cần được giám sát và quản chế kĩ lưỡng. Các giá trị truyền thống cần được lưu truyền, nhưng quan trọng là vẫn mang trong mình ý nghĩa dân tộc của nó. 
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, nghệ thuật truyền thống Kinh kịch dần được biết rộng rãi, tạo nên nhu cầu tìm hiểu và sưu tầm những vật dụng liên quan. Cũng như các cửa hàng buôn bán đạo cụ dần trở nên phổ biến, đặc biệt là mặt nạ. Mặt nạ như một biểu tượng của Kinh kịch, lại có số lượng đa dạng, phong phú về mặt hình thức là một mặt hàng được ưu chuộng trong cuộc sống bình dân. 
Mặt nạ Kinh kịch như một phần của kho tàng văn hoá Trung Quốc, là đặc trưng của Kinh kịch nói riêng và văn hoá Trung Quốc nói chung. Người Trung Quốc vận dụng sự khéo léo và tinh tế, chuyển tải hình ảnh này lên hầu hết bề măt nào có thể. Mặt nạ được vẽ trên các phiên bản nhỏ, thể hiện nhiều sắc thái khác nhau. Ngoài ra, các mẫu kiểm phổ cũng phổ biến như một hình thức trang trí phổ biến trong các mặt hàng tiêu dùng của Trung Quốc. Không chỉ từ lĩnh vực hàng tiêu dùng như ly, chén đĩa, hay hàng thủ công mỹ nghệ mà đến lĩnh vực thời trang cũng xuất hiện hình ảnh của những chiếc mặt nạ Kinh kịch. Họ sử dụng hình ảnh lên quần áo, giảy dép, cho đến trang sức, phụ kiện, kể cả lĩnh vực nail cũng bỏ sót. Có thể nói họ tận dụng triệt để hình tượng này, không chỉ mang lại tác dụng mang nghệ thuật sân khấu đến gần với người dân, khiến cho hình ảnh gắn bó với người dân, mà còn mang lại lợi ích về kinh tế. Điều này, cho thấy tính thế tục rất rõ trong tư duy của người Trung Quốc.
Một trong những yếu tố thành công tạo nên sự đồng thuận trong việc kinh doanh “di sản” là yếu tố đồng nhất, hay tiêu chuẩn chung. Những sản phẩm khác nhau về mẫu mã, loại hình, hay nơi sản xuất, tất cả đều có điểm chung về tính chính xác của bản vẽ. Dù ở Bắc Kinh, Thượng Hải, hay ở nước ngoài, các mặt hàng có hình ảnh mặt nạ Kinh kịch đều có sự giống nhau trong hình ảnh. Có thể coi đó là tiêu chuẩn chung, tỏ rõ sự trân trọng của người Trung Quốc đối với linh hồn dân tộc. Họ có thể kiếm tiền từ di sản văn hoá, nhưng lại yêu cầu tính chính xác cho yếu tố đó, đảm bảo sự trong sạch, thuẩn tuý của di sản đó. Dường như nguyên tắc đó, sự đồng nhất của một dân tộc vô cùng đa dạng, đã trở thành biểu trưng của người Trung Quốc, tạo nên thế mạnh thống nhất, ấn tượng đoàn kết trước mắt bạn bè thế giới.

Bên cạnh đó, những khuyết điểm còn tồn tại chính là sự đầu tư tràn lan và sự phong phú của các mặt hàng có hình ảnh mặt nạ Kinh kịch. Để đáp ứng nhu cầu lớn về cung ứng sản phẩm, các mặt nạ lưu niệm với kích thước nhỏ thường không được chau chuốt, phần nào làm mất đi vẻ đẹp, sự tinh tế của kiểm phổ. Đối với các mặt hàng gia dụng, hình tượng mặt nạ biểu trưng của Kinh kịch được sử dụng rộng rãi, tạo nên nguy cơ giảm tính thiêng, sự trân trọng đối với hình tượng này. Như hình ảnh mặt nạ Trương Phi xuất hiện trên các tấm bài tây. Sử dụng đúng cách tạo nên tiềm lực phát triển và ý nghĩa nhân văn cho hình tượng mặt nạ Kinh kịch, nhưng khi mức sử dụng trở thành lạm dụng lại tạo nên những phản ứng ngược cho chính hình tượng đó.   

3. Kết luận

Kinh kịch xuất hiện và phát triển trong khoảng thời gian gần 200 năm ở Trung Quốc nhưng mang trong mình những đặc tính đại diện của họ, trở thành biểu tượng văn hoá trước thế giới. Cùng với sự thăng trầm của lịch sử, Kinh kịch Trung Quốc có giai đoạn kiệt quệ, suy yếu. Nhưng từ khi nhận thức được vẻ đẹp, người Trung Quốc dành sự tôn trọng đáng nể dành cho loại hình nghệ thuật này. Bên cạnh việc tuyên truyền ý thức bảo vệ các giá trị truyền thống, cùng việc chủ động mang văn hoá dân tộc giới thiệu với thế giới, chính sự chủ động hành động bảo vệ đã làm bật lên tính cách, cùng sự yêu quí của họ với nghê thuật dân tộc. Thông qua đó thể hiện tính ý thức dân tộc cao, đặc trưng của văn hoá gốc nông nghiệp.

Kinh kịch là sự tổng hợp của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau, mà mỗi yếu tố đều là tinh hoa của văn hoá dân tộc Trung Quốc. Mặt nạ Kinh kịch cũng là một trong số đó. Bên cạnh sự nổi tiếng của thư pháp và tranh thuỷ mặc, nghệ thuật vẽ mặt nạ Kinh kịch cũng được xếp vào nghệ thuật “hoạ”. Thông qua mặt nạ, lối tư duy trừu tượng, hình tượng hoá đặc trưng văn hoá gốc nông nghiệp cũng được thể hiện rõ. Ngoài ra, nghệ thuật vẽ mặt nạ còn bật lên sự tỉ mỉ, cầu kì chỉnh chu, khéo léo đặc trưng của người Trung Quốc. Nhưng có thể nói, tính cách của người Trung Quốc được thể hiện rõ nhất không thông qua chiếc mặt nạ, mà qua cách họ sử dụng chúng. Từ lối tư duy chọn vẽ mặt nạ lên mặt người, cho đến sự khôn khéo, tư lợi trong việc kinh doanh hình ảnh truyền thống đều chỉ rõ tính thế tục của họ.
Bởi vậy, có thể nhận định rằng nghệ thuật biểu diễn, chính là sự biểu hiện bên ngoài một cách rất rõ ràng của một nền văn hoá. Nghệ thuật đến từ việc thoả mãn nhu cầu giải trí của con người. Và nghệ thuật biểu diễn chính là hiện thực hoá tư tưởng của con người. Xem xét một loại hình nghệ thuật cũng là một trong những yếu tố cần thiết để tìm hiểu và phân tích về một nền văn hoá nào đó.

4. Tài liệu tham khảo 

1.      Trung Hoa đất nước con người – Lâm Ngữ Đường – NXB Văn hoá thông tin 2001
2.      Kinh kịch - Wikimedia  - http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_k%E1%BB%8Bch
3.      Lịch sử Kinh kịch– Chna ABC - http://vietnamese.cri.cn/chinaabc/chapter19/chapter190103.htm
4.    Kinh kịchTrung Quốc – Nghệ thuật đặc sắc Á Đông - http://reds.vn/index.php/nghe-thuat/san-khau/2873-kinh-kich-trung-quoc
5.      Beịing Opera Masks - http://www.paulnoll.com/China/Opera/
6.    Trung Quốc bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật Kinh kịchtruyền thống - http://www.vietravel.com.vn/vn/tin-tuc/21-2772-trung-quoc-bao-ton-va-phat-trien-loai-hinh-nghe-thuat-kinh-kich-truyen-thong.aspx
7.     Một chút về nghệ thuật vẽ mặt nạ Kinh kịch- http://maskcollection.blogspot.com/2013/09/mot-chut-ve-nghe-thuat-ve-mat-na-kinh.html
8.   Mặt nạ Kinh kịchhay cách người Trung Quốc kiếm tiền từ di sản - http://maskcollection.blogspot.com/2013/09/mat-na-kinh-kich-hay-la-cach-nguoi.html
9.      Beijing Opera Facial Design - http://www.cultural-china.com/chinaWH/Arts/en/87Arts6676.html



ps: đây chỉ là bản thảo của tôi trong quá trình làm bài luận. Còn rất nhiều điểm sai sót và cần được bổ sung. Tuy nhiên, tôi không có ý định upload bài hoàn chỉnh. Mong rằng mọi người sẽ tìm được điều mình cần trong những gì tôi tập hợp được. 
Ngoài ra, trong bài rất nhiều phần, tôi copy toàn bộ nội dung của http://maskcollection.blogspot.com. Xin chân thành cảm ơn.

Nghệ thuật mặt nạ Kinh kịch Trung Quốc p1

1           Mở đầu

1.1         Lý do chọn đề tài

Được xem là một di sản văn hoá Thế giới, Kinh kịchlà một trong những nét văn hoá đặc sắc do người Trung Quốc sáng tạo ra. Kinh kịchkhông chỉ mang trong mình tính cách của người Trung Quốc mà còn thể hiện phong tục, tập quán và quan niệm sống của họ. Ngày nay, Kinh kịchđang dần được chú trọng trong công tác bảo tồn và phát triển để đưa loại hình văn nghệ này trở lại cuộc sống hiện đại, đặc biệt là với giới trẻ Trung Quốc.
Một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật Kinh kịchchính do nghệ thuật vẽ mặt nạ biểu diễn trong các vở kịch. Chúng tôi xin chọn đấy làm đề tài nhằm làm rõ vai trò, vị trí cũng như ảnh hưởng của mặt nạ đối với Kinh kịch, bên cạnh đó chỉ ra đặc trưng tư tưởng của người Trung Quốc. Từ đó cho thấy sự liên hệ giữa nghệ thuật và văn hoá, là mối quan hệ tương quan, gắn bó với nhau.

1.2         Đối tượng – phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: nghệ thuật vẽ mặt nạ trong Kinh kịchTrung Quốc
Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Từ giai đoạn thế kỉ 20 đến nay
Về không gian: Văn hoá Trung Quốc

1.3         Yêu cầu mục đích

Tìm hiểu và phân tích quá trình hình và phát triển của Kinh kịch nói chung, bên cạnh đó cho thấy sự phát triển song song của nghệ thuật vẽ mặt nạ. Nhìn nhận sự phục hồi của nghệ thuật Kinh kịch, cùng nghệ thuật của người Trung Quốc trong việc bảo tồn văn hoá, từ đó nhìn nhận tính cách và quan điểm của người Trung Quốc về nghệ thuật Kinh kịch.

1.4         Bố cục

Nội dung gồm 4 phần: Sơ lược, quá trình hình thành và phát triển, đặc điểm, thực trạng.


2. Nội dung

2.1 Loại hình nghệ thuật truyền thống – Kinh kịch

Trong văn học Trung Quốc, hý kịch giữ một địa vị thấp kém ở giữa nền văn học chính thống và nền văn học thuần tuý, gần giống văn học theo phương Tây phản ánh trung thực tâm hồn của con người. Dùng nhiều bạch thoại và ngôn ngữ địa phjương để viết nên không bị gò bó trong tiêu chuẩn của phái thống trị, vì vậy vẫn giữ được tính chat sống động và tự do, cũng như luôn luôn phát triển. Những hý kịch của Trung Quốc một phần là thơ nên cũng được xem là văn chương, không bị phê phán như tiểu thuyết.
Kinh là một loại hình nghệ thuật tổng hợp sử dụng kết hợp nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau. Nội dung cơ bản tái diễn cuộc sống hoặc trí tưởng tượng của con người. Kịch đã có lịch sử phát triển từ lâu đời. Không chỉ phương Tây mà cả phương Đông đều xuất hiện từ sớm. Tuy nhiên, cách thức cũng như cách lựa chọn hình thức phối hợp hay nội dung đều rất khác nhau.
Sân khấu kịch châu Âu thiên về tả thực với trọng tâm là nghệ thuật biểu diễn của nhân vật, trong khi phương Đông thường biểu trưng hoá, cả nhân vật và nội dung câu chuyện. Những loại hình kịch còn tồn tại và để dấu ấn hiện nay, gồm: kinh kịch, kịch nô, …
Trung Quốc, là một trong những nôi văn hoá lớn của khu vực cũng như thế giới. Trong lĩnh vực nghệ thuật, Trung Quốc cũng đóng góp một phần quan trọng, thông qua loại hình kịch của mình, kinh kịch.

a.      Quá trình hình thành

Ban đầu nghệ thuật diễn tuồng sân khấu của Trung Hoa cổ được gọi là ca kịch hay hí kịch là một thể loại diễn tuồng bao gồm ca múa (ngâm khúc kèm theo nghệ thuật vũ đạo), thậm chí có cả các loại tạp kĩ pha trộn như kể chuyện, các màn nhào lộn, xiếc, diễn hoạt kê (tiếu lâm khôi hài), đối thoại trào lộng và võ thuật.
Từ thời nhà Đường trở về trước nghệ thuật diễn tuồng sân khấu được gọi là hí kịch.
Các thể loại kịch của Trung Quốc cũng như các loại hình biểu diễn sân khấu tương tự tại các nước trong khu vực như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam thường lấy các sự tích câu chuyện những vị anh hùng trong dân gian và lịch sử làm đề tài chủ đạo.
Cho đến thời nhà Đường, được phát triển thành Tham quân hí (hoặc được gọi là Lộng tham quân) bao gồm hai vai: một người mặc y phục xanh lục tề chỉnh, thông minh cơ trí và linh lợi, tên vai diễn gọi là Tham quân; còn người kia ăn mặc lôi thôi, khờ khạo đần độn, tên vai diễn gọi là Thương cốt. Hai nhân vật này trong vở khi diễn thường có những lời đối đáp khôi hài trào lộng. Tham quân là vai chính, Thương cốt là vai phụ. Đôi khi Tham quân là đối tượng để làm trò cười và cuối cùng bị Thương cốt đánh đập.
Đến thời nhà Tống, Tham quân hí biến thành Tạp kịch. Vai diễn cũng chỉ có hai người: Thương cốt (vai khờ khạo) được đổi thành tên Phó mạt, còn Tham quân (vai tinh khôn) được đổi tên là Phó tịnh. Trong khi diễn, diễn viên nam cũng có thể hóa trang thành nhân vật nữ để diễn xuất, được gọi là Trang đán. Đến thời Nam Tống, vùng đất Ôn Châu là nơi nổi danh về hí kịch, ca múa, nên sản sinh ra thể loại được gọi là Nam hí (hí kịch Nam Tống).
Thời nhà Tống nghệ thuật diễn không chú ý đến các vai nữ (Đán giác). Vai nữ được xếp hạng là «đệ tử» (con em). Trong ban hát đều là nữ thì được gọi là «đệ tử tạp kịch». Vai chính được gọi là Chính đán, vai già là Lão đán, vai trẻ là Tiểu đán, Trà đán, Thiếp đán, v.v...
Vào thời nhà Nguyên, vai nữ (đán giác) lại rất được xem trọng. Đó cũng là điểm khác biệt giữa tạp kịch thời nhà Nguyên và tạp kịch thời nhà Tống.Tính chất tạp kịch thời nhà Tống và thời nhà Nguyên có chung một tính chất là khôi hài, hoạt kê, nhưng tạp kịch thời nhà Nguyên có nhấn mạnh thêm tính chất phê phán thói đời và các tệ nạn xã hội.Tạp kịch thời nhà Nguyên là thành tựu rất lớn và ở giai đoạn đỉnh điểm hưng thịnh của nó trong suốt hai thế kỷ XIII-XIV. Nhiều nhà soạn những vở diễn tuồng múa hát rất nhiều, khoảng trên 150 người, trong số đó nổi tiếng nhất là Quan Hán Khanh có ít nhất cũng khoảng 60 vở tuồng.
Tạp kịch thời nhà Nguyên thâu hóa và chuyển thể các tác phẩm văn học Trung Quốc cổ đại. Trong một vở thường có bốn hồi và đôi khi có thêm phần phi lộ. Vai chính phải hát trong thời gian diễn suốt vở kịch. Dù các nhạc phổ của Nguyên khúc không còn giữ được, nhưng qua hình ảnh và các tư liệu còn lại, người ta đã phát hiện các loại nhạc cụ gồm sáo, trống, não bạt.
Các nhân vật trong tạp kịch thời nhà Nguyên là anh hùng, văn nhân, kĩ nữ, cường đạo, quan tòa, ẩn sĩ, và các vai siêu nhiên (ma, qủy, v.v...).
Cuối thời nhà Nguyên, Nam hí chuyển hóa thành thể loại Truyền kỳ. Truyền kì tập trung vào các chủ đề tình cảm lãng mạn trên sân khấu trong suốt 200 năm sau đó. Âm nhạc trong thể loại Nam hí bao gồm các khúc hát và ca từ trong dân gian, các bài ca dao ở thôn quê mang tính chất đặc thù địa phương khá đậm. Do vậy trong Truyền kì nghệ thuật diễn đã phát triển thành hệ thống bốn giọng nói địa phương: Hải Diêm, Dặc Dương, Dư Diêu, và Côn Sơn. Các Khúc hát vùng Côn Sơn được gọi là Côn khúc thống lĩnh sân khấu từ cuối thời nhà Minh.
Đến thời nhà Thanh thì Côn khúc được gọi là Nhã bộ, rất được giới sĩ phu trí thức hâm mộ. Vào giai đoạn Côn Khúc suy tàn, các loại hí kịch địa phương mới có dịp nở rộ và được gọi theo tên địa phương như Xuyên kịch của vùng Tứ Xuyên, Tương kịch của vùng Tương Dương, cho đến Cống kịch, Huy kịch, v.v... mà sau này tất cả được gọi là chung là Kinh Kịch. Kinh kịchđôi khi được diễn giải là loại hát kịch ở Bắc Kinh.
Khởi đầu Kinh kịch là biến thể từ mấy loại tuồng cổ địa phương. Từ năm Càn Long thứ 55 đời Thanh (1790), bốn gánh hát Huy Ban (một loại kịch của tỉnh An Huy) từ phía nam đại lục Trung Quốc bắt đầu lần lượt đến Bắc Kinh. Gánh Huy Ban đầu tiên vào kinh là gánh hát Tam Khánh, do Giang Hạc Đình - một chủ buôn muối ở Dương Châu người An Huy đứng đầu. Họ chủ yếu hát làn điệu Nhị Huỳnh (Nhì Voòng) kèm theo là một số làn điệu khác như: Côn, Tú Bình, Bạt tử… Do làn điệu và kịch bản rất phong phú nên đã nhanh chóng áp đảo làn điệu Tần đang thịnh hành ở Bắc Kinh lúc đó, rất nhiều diễn viên ở các gánh hát hát điệu Tần đã chuyển sang các gánh Huy Ban, tạo nên sự kết hợp giữa hai làn điệu Huy và Tần. Do làn điệu Tây Bì là phát xuất từ điệu Tần nên có thể nói rằng đây là lần hợp lưu thứ nhất giữa hai làn điệu Nhị Huỳnh và Tây Bì. Sau đó ba gánh hát Huy Ban khác là Xuân Đài, Tứ Hỉ, Hòa Xuân cũng đến Bắc Kinh làm cho sân khấu Bắc Kinh có một sự biến chuyển lớn. Loại hình Côn kịch thịnh hành nhiều năm đến đây suy yếu, các diễn viên Côn kịch phần lớn cũng chuyển sang các gánh Huy Ban. Đến khoảng những năm Đạo Quang nhà Thanh, các diễn viên ở Hồ Bắc là Vương Hồng Quý, Lý Lục, Dư Tam Thắng đến Bắc Kinh mang theo điệu hát Sở (điệu Tây Bì) nên đã tạo nên sự hợp lưu lần thứ hai giữa hai làn điệu Nhị Huỳnh và Tây Bì ở kinh sư, tạo nên loại hình gọi là "Bì Huỳnh hí".
"Bì huỳnh hí" hình thành ở Bắc Kinh, chịu ảnh hưởng của các làn điệu và ngữ âm Bắc Kinh nên mang các đặc điểm và tiếng nói Bắc Kinh. Do họ thường đến Thượng Hải biểu diễn nên người Thượng Hải mới gọi loại hình "Bì huỳnh hí" mang đặc điểm Bắc Kinh này là Kinh Kịch.

b.     Giai đoạn phát triển

Kinh kịchTrung Quốc thường được gọi là ca kịch, có lịch sử hơn 200 năm. Kinh kịchbắt nguồn từ các gánh tuồng địa phương. Nổi bật trong số đó là đoàn tuồng An Huy, tồn tại ở miền Nam Trung Quốc vào thế kỉ 18. Năm 1790, đoàn diễn này biểu diễn tại Bắc Kinh phục vụ cho tầng lớp vua quan. Từ đó trở đi, xuất hiện nhiều đoàn diễn địa phương khác cũng đến Bắc Kinh trình diễn. Với đặc tính lưu động mạnh, các đoàn diễn này hấp thu các phương pháp diễn của nhau, cũng như các loại hình tuồng khác nhau. Bắc Kinh trở nên sôi động vì tập trung nhiều đoàn diễn, khiến cho phong trào này phát triển nhanh chóng. Tính từ thời điểm đó, các loại hình tuồng/ kịch được gọi là Kinh kịch, có thể hiểu như kịch ở Bắc Kinh.
Cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, Kinh kịchdần được định hình, trở thành loại tuồng/ kịch diễn trên sân khấu lớn nhất lúc bấy giờ. Thu hút đông đảo khán giả từ nhiều tầng lớ khác nhau, dẫn đến việc số lượng nghệ nhân biểu diễn, số lượng đoàn diễn và sân khấu gia tăng nhanh trong giai đoạn này.
Giai đoạn thứ hai của Kinh kịchbắt đầu từ những năm 40 của thế kỉ 20, đây là giai đoạn cao trào trong quá trình phát triển. Đặc điểm của giai đoạn này là phát sinh nhiều trường phái khác nhau. Trong đó có 4 trường phái tiêu biểu, lấy tên của người khởi sinh ra nó. Mai Lan Phương ( 1894 – 1968), Thượng Tiểu Vân ( 1890 -1975), Trình Nghiên Thu ( 1904 – 1958), Tuân Huệ Sinh ( 1900 – 1968). Mỗi trường phái thu hút nhiều diễn viên nổi tiếng, trên các sân khấu lớn như Thượng Hải, Bắc Kinh. Bản thân ông Mai Lan Phương trong sự nghiệp của mình đã có nhiều sáng tạo về nhiều mặt, như giọng ca Đào, bạch thoại, động tác múa, trang phục… Đặc biệt năm 1919, Kinh kịchđược ông mang sang Nhật Bản biểu diễn, đánh dấu sự phát triển ngoài quốc gia lần đầu tiên. Đến năm 1930, Kinh kịchđược biết đến ở Mỹ. Năm 1934, Châu Âu đã biết sự hiện diện của Kinh kịchvà được coi trọng. Từ đó, nhiều nơi coi Kinh kịchlà đại diện cho nền nghệ thuật biểu diễn của Trung Quốc.
(Ảnh : Mai Lan Phương, Trình Nghiên Thu, Tuân Huệ Sinh, Thượng Tiểu Vân)
Giai đoạn thứ ba Kinh kịchchịu tổn thất nặng nề. Do những tác động từ chính trị xã hội, kể từ sau những năm 40 thế kỉ 20, vị trí xã hội của Kinh kịchbị giảm sút trầm trọng. Một thời gian dài khán giả không chú trọng sân khấu và xem loại hình này là nghệ thuật dân gian tầm thường. Đây là giai đoạn bước đầu giao lưu với văn hoá phương Tây, các giá trị truyền thống nhường chỗ cho nghệ thuật hiện đại, như nhạc kịch, câu lạc bộ đêm, hay karaoke. Sau đó, trong cuộc cách mạng văn hoá năm 1966 – 1976 ở Trung Quốc, Kinh kịchbị xếp vào loại hình nghệ thuật mang tính tư sản. Tuy vẫn được công diễn, nhưng Kinh kịchlúc đó bj quản chế rất nghiêm ngặt. Nghệ nhân bị kì thị, sân khấu chỉ được diễn số lượng ít ỏi. Giai đoạn này đã làm mất đi một số nét đặc sắc và tinh tuý của sân khấu kinh kịch, cũng như hệ thống diễn viên tài năng. Thậm chí trong giai đoạn này, đã có người chỉ ra nguy cơ biến mất.
Giai đoạn thứ tư, từ cuối thế kỉ 20 đến nay. Nhà nước Trung Quốc ngày nay đã nhìn nhận lại vai trò của loại hình nghệ thuật truyền thống này. Vì vậy, hiện nay, Kinh kịchđang trong giai đoạn phục hồi và phát triể dưới sự bảo trợ của nhà nước. Sau cuộc cái cách mở cửa năm , Kinh kịchđã có những dấu hiệu khôi phục rõ rệt. Hiện nay, nhà hát lớn Trường An, Bắc Kinh thường xuyên công diễn các vở Kinh kịchvới nội dung mới. Các cuộc thi biểu diễn Kinh kịchthu hút khán giả trong và ngoài nước. Ngoài ra, Kinh kịchcòn là chương trình bảo lưu trong giao lưu văn hoá giữa Trung Quốc với nước ngoài.

c.      Đặc điểm

Trong Kinh kịchthường hay có các màn nhào lộn, xiếc, và diễn trò và không có vị trí gì trong võ thuật Trung Hoa. Nhưng võ thuật Trung Hoa đã thâm nhập vào loại hình nghệ thuật này và góp sức làm giàu thêm cho khung cảnh Văn hóa Trung Hoa.
Sau này các diễn viên Kinh kịchđược đào tạo bài bản thường chuyển sang thành các diễn viên võ thuật trong điện ảnh như Quan Đức Hưng là người đầu tiên diễn vai Hoàng Phi Hồng, Thành Long (còn gọi là Jackie Chan) trong các thể loại phim võ hài do anh đổi mới phong cách cùng với Hồng Kim Bảo để thoát ra khỏi tầm ảnh hưởng của thể loại phim Kungfu của Lý Tiểu Long khởi xướng từ cuối thập kỉ 1960, Lục Tiểu Linh Đồng trong vai Tôn Ngộ Không trong bộ phim truyền hình nhiều tập Tây du kí được chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngô Thừa Ân thời nhà Minh, ...
Có thể nói rằng Kinh kịchđã góp phần làm phong phú diện mạo của điện ảnh Hồng KôngTrung Quốc hiện đại. Do đó có người cho rằng trong thể loại phim quyền cước của Hồng Kông có hai loại võ thuật là võ thuật thật sự của các võ sư và quyền sư tham gia diễn và võ thuật sân khấu của những diễn viên Kinh kịchchuyển sang.
Kinh kịchlà một loại hình nghệ thuật tổng hợp, biểu hiện của sự hợp nhất tinh tế giữa: ca, nói, võ thuật, múa và diễn xuất. Trong đó, đặc biệt nhất có thể kể đến yếu tố võ thuật trong Kinh kịch, về sau được phát triển và là tiền đề cho yếu tố võ thuật diễn xuất trong điện ảnh. Nhân vật trong Kinh kịchchia làm 4 vai chinh. Bao gồm Sinh – vai nam; Đào – vai nữ; Tĩnh – vai nam; Hài – nam hoặc nữ, bên cạnh các loại vai phụ khác.
Nội dung và cách sử dụng ngôn từ cũng đóng vai trò chủ chốt trong sự hấp dẫn của Kinh kịch. Đặc tính hỗn tạp của hý kịch ( tên gọi trước của Kinh kịch) là căn nguyên của lối sáng tác đặc biệt và sức phổ biến mạnh mẽ khác thường của nó. Là tổng hợp của bạch thoại, ngôn ngữ địa phương và thi ca, nhờ văn chương viết bằng ngôn ngữ thông thường khiến cho người dân dễ lĩnh hội, dễ bắt chước. Nội dung cao thương, nhiều tính thơ. Về bản chất hý kịch Trung Quốc khác kịch phương Tây, người đi nghe, chủ yếu, là nghe hát, sau đó mới chú ý đến kĩ thuật trình diễn của đào kép. Bởi vậy họ thường đi “ nghe hát” hơn là đi “ coi kịch”. Kịch phương Tây thường là những đoạn đối thoại thẳng, xen vào thái độ biểu cảm. Trong khi hý kịch Trung Quốc lấy lòng khán giả nhờ ca xướng và âm nhạc. Bởi một nguyên nhân khác, các kịch bản được xây dựng, nhằm vào mục đích của người xem. Ở phương Tây, người xem muốn hiểu rõ câu chuyện, bởi các tình tiết và các mối quan hệ. Trong khi ở Trung Quốc, đó lại là cảm giác được thư giãn với lời ca giọng hát, thanh điệu âm thanh, sắc thái của diễn viên. Nhờ vậy, một tác phẩm hý kịch Trung Quốc có thể được xem đi xem lại nhiều lần.
Ngoài ra, hý kịch Trung Quốc ăn sâu vào tâm hồn dân chúng, đặc biệt là ở các tầng lớp thấp ở xã hội. Hý kịch giúp người dân hiểu rõ về lịch sử, âm nhạc mà còn có công dụng giáo dục, làm cho họ phân biệt rõ thiện và ác. Những ý thức truyền thống của người Trung Quốc như trung thần, hiếu tử, liệt nữ … đều được đưa vào hý kịch. Kịch bản được soạn ra với hình thức truyện cổ trình bày các vai, làm cho khán giả yêu ghét rõ ràng, khiến họ bị kích động và thấm nhuần ý thức đạo đức.
Kinh kịchđược xem đi xem lại nhiều lần là do tính gần gũi, dễ hiểu dễ tiếp thu xuất phát từ nội dung. Đặc tính này cũng thể hiện trong mặt hình thức. Đại diện là mặt nạ được vẽ cho các nhân vật trong kinh kịch. Có nhiều tài liệu cho rằng đây chính là nghệ thuật đặc sắc nhất trong kinh kịch. Mặt nạ sử dụng trong Kinh kịchcòn được gọi là kiểm phổ. Thông qua màu sắc và hình dạng của mặt nạ, khán giả có thể nhận dạng được tính cách nhân vật.